Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tín dụng
Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tín dụng
Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tín dụng
Thứ nhất, Bên vi phạm sẽ phải chịu một trong các loại chế tài trong thương mại (Điều 292 Luật Thương Mại )
– Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
-Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
– Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
– Huỷ bỏ hợp đồng.
1.Tranh chấp hợp đồng thương mại
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóado một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Tóm tắt câu hỏi:
X là một công ty chuyên kinh doanhtrang thiết bị văn phòng ở một tỉnh miền núi yêu cầu Y là công ty kinh doanhcùng mặt hàng giao cho X 100 bộ bàn ghế văn phòng có kiểu dáng như X đã từngmua của Y theo những hợp đồng trước đã ký kết và thực hiện xong vào 1 ngày xácđịnh qua 1 bức thư mà trong đó không nói đến giá cả, chất lượng, điểm giao hàngvà phương thức thanh toán. Y không trả lời và không giao hàng. X đòi khởi kiệnvà dẫn chứng: trong hợp đồng trước đã có nói tới điều khoản ” Y sẵn sàng cungcấp những mặt hàng được ghi trong hợp đồng này vào bất cứ thời điểm nào khinhận được yêu cầu cụ thể của X với điều kiện X phải trả thêm cho mỗi đơn vịhàng hóa 0,1% giá cả của đơn vị hàng hóa đó trong lần giao hàng theo hợp đồngnày”, Y lập luận hợp đồng nói trên đã chấm dứt vào thời điểm giao hàng lần cuốicùng theo hợp đồng đó và hợp đồng này chỉ lập ra trong các lần mua bán đó. Ycùng cho rằng điều khoản mà X dẫn chiếu rất mập mờ không thể hiện ý chí cụ thểcác điểm chính của việc mua bán như giá cả, chất lượng, phương thức thanhtoán…X cho rằng mình đã trả thêm 0,1% nên có quyền đòi hỏi như vậy. tranh chấpnói trên được khởi kiện ra tòa, vậy ai sẽ là người thắng kiện, trách nhiệm củabên vi phạm sẽ như thế nào?
Luật sư tư vấn:
Theo quy định tại Điều 24 LuậtThương mại 2005 về Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá
1. Hợp đồng mua bán hàng hoá đượcthể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
2. Đối với các loại hợp đồng mua bánhàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theocác quy định đó.
Theo quy định này thì hình thức hợpđồng mua bán hàng hóa có thể là: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vicụ thể. Vậy việc X gửi cho Y 1 bức thư yêu cầu về việc giao hàng hóa thì coi nhưhành vi đề nghị giao kết hợp đồng.
Y không trả lời lại đề nghị giao kếthợp đồng của X. Điều 404 Khoản 2 “Bộ luật dân sự 2015” : “Hợp đồng dân sự cũngxem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn imlặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết”.
Tuy nhiên, cũng không thể chỉ dựavào sự im lặng để kết luận về việc hợp đồng có được giao kết không. Mà xéttrong thực tiễn vụ việc này giữa Công ty X và Công ty Y đã từng kí kết và thựchiện hoạt động mua bán bàn ghế văn phòng nhiều lần trước
”Công ty X yêu cầu Y là công ty kinhdoanh cùng mặt hàng giao cho X 100 bộ bàn ghế văn phòng có kiểu dáng như X đãtừng mua của Y theo những hợp đồng trước đã ký kết và thực hiện xong vào 1 ngàyxác định qua 1 bức thư mà trong đó không nói đến giá cả, chất lượng, điểm giaohàng và phương thức thanh toán”.
Hơn nữa trong hợp đồng trước đã cónói tới điều khoản “ Y sẵn sàng cung cấp những mặt hàng được ghi trong hợp đồngnày vào bất cứ thời điểm nào khi nhận được yêu cầu cụ thể của X với điều kiện Xphải trả thêm cho mỗi đơn vị hàng hóa 0,1% giá cả của đơn vị hàng hóa đó tronglần giao hàng theo hợp đồng này“
Như vậy,có thể thấy rằng trong yêucầumà công ty X gửi cho công ty Y có các nội dung về mặt hàng, số lượng hànghóa. Nhưng không nói đến vấn đề giá cả, chất lượng, địa điểm và phương thứcgiao hàng. Tuy nhiên giữa hai bên đã có thói quen trong hoạt động thương mạiđược thiết lập.
Trừ trường hợp có thoả thuận khác,các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đãđược thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng khôngđược trái với quy định của pháp luật. ( Điều 12 Luật Thương mại)
Như vậy, trong yêu cầu mà X đưa rathì những vấn đề về giá cả, chất lượng, địa điểm và phương thức giao hàng cóthể coi là được thực hiện theo thói quen thương mại giữa hai bên và sự im lặngcủa Y làm cho X sẽ hiểu là hàng vẫn sẽ được giao như những hợp đồng trước đó.
Vậy Y lập luận hợp đồng nói trên đãchấm dứt vào thời điểm giao hàng lần cuối cùng theo hợp đồng đó và hợp đồng nàychỉ lập ra trong các lần mua bán đó. Y cũng cho rằng điều khoản mà X dẫn chiếurất mập mờ không thể hiện ý chí cụ thể các điểm chính của việc mua bán như giácả, chất lượng, phương thức thanh toán.
Với những căn cứ nêu trên thì có thểthấy rằng lập luận của Y sẽ là không hợp lý, không có căn cứ pháp luật và khôngđược chấp nhận khi giải quyết tranh chấp.
Khi các bên đưa tranh chấp nêu trênra Tòa án thì Tòa án sẽ căn cứ vào quy định của Luật Thương mại 2005 mà đưa rabản án buộc bên vi phạm hợp đồng – bên Y thực hiện các nghĩa vụ sau:
Thứ nhất, Bên vi phạm sẽ phải chịumột trong các loại chế tài trong thương mại (Điều 292 Luật Thương Mại )
– Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
-Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
– Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
– Huỷ bỏ hợp đồng.
– Các biện pháp khác do các bên thoảthuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tếmà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốctế.
Thứ hai, bên vi phạm có thể bị phạtvi phạm hợp đồng nếu có căn cứ tại Điều 300 Luật Thương Mại “Phạt vi phạm làviệc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợpđồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quyđịnh tại Điều 294 của Luật này”.
Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụhợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận tronghợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừtrường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.
Thứ ba, bên vi phạm sẽ phải bồithường thiệt hại cho bên kia nếu có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thườngthiệt hại.
1. Bồi thường thiệt hại là việc bênvi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bịvi phạm.
2. Giá trị bồi thường thiệt hại baogồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên viphạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếukhông có hành vi vi phạm.
Điều 303. Căn cứ phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệmquy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinhkhi có đủ các yếu tố sau đây:
1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2. Có thiệt hại thực tế;
2.Giải quyết tranh chấp tín dụng
1. TÍN DỤNG VÀ TRANH CHẤP TÍN DỤNG
1.1. Hợp đồng tín dụng
Khoản 14, Điều 4 về "Giải thíchtừ ngữ", Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 quy định "Cấp tíndụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền thao nguyêntắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, baothanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác". Cácnghiệp vụ cấp tín dụng khác như tái chiết khấu, ứng trước, mua có bảo lưu quyềntruy đòi (trừ các khoản mua có kỳ hạn) công cụ chuyển phát hành thẻ tín dụng,nhượng và giấy tờ có giá khác. Dưới đây gọi là tín dụng và hợp đồng tín dụngthay vì cấp tín dụng và hợp đồng cấp tín dụng không chính xác theo quy định củapháp luật hiện hành (vì trước đây gọi sai riêng hợp đồng cho vay là hợp đồngtín dụng, nên đã buộc phải gọi hợp đồng tín dụng nói chung là hợp đồng cấp tíndụng).
Đối với các TCTD, hợp đồng bảo lãnhngân hàng được điều chỉnh theo quy định riêng của pháp luật ngân hàng đối vớibảo lãnh ngân hàng, đồng thời theo quy định chung tại điều 335 về "Bảolãnh", Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015. Các quan hệ tín dụng khác ngoài hợpđồng cho vay và bảo lãnh ngân hàng như chiết khấu, cho thuê tài chính, baothanh toán thì không được quy định trong BLDS năm 2015, mà chủ yếu được hướngdẫn bằng các văn bản dưới luật. Trường hợp TCTD cấp tín dụng không đúng với quyđịnh của luật thì có thể bị vô hiệu theo quy định tại Điều 124 về "Giaodịch dân sự vô hiệu do giả tạo", BLDS năm 2015. Chẳng hạn như việc cấp tíndụng cho vay dưới hình thức đặt cọc hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng đểmua, thuê nhà như đã xảy ra trong vụ án tại Ngân hàng Xây dựng.
1.2. Tranh chấp tín dụng
Tranh chấp tín dụng được hiểu làtranh chấp về các hợp đồng tín dụng gồm hợp đồng cho vay, chiết khấu, cho thuêtài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hợp đồng tín dụng khác.
Đối với hợp đồng cho vay, thì tranhchấp có thể là nợ gốc, nợ lãi, lãi suất, về mọi vấn đề liên quan đến hợp đồngcho vay như điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, hình thức bảo đảm, giá trịtài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và các nội dung khác. Tuy nhiên, trên thựctế hợp đồng cho vay nói riêng, hợp đồng tín dụng nói chung, thường xảy ra cáctranh chấp giống nhau tập trung vào số nợ gốc, các loại lãi suất, phí và việc xửlý tài sản bảo đảm.
Đối với các TCTD thì hợp đồng chovay được điều chỉnh theo các quy định riêng của pháp luật ngân hàng đối với hợpđồng tín dụng, đồng thời theo quy định chung tại Điều 463 về “Hợp đồng vay tàisản”, BLDS năm 2015.
Riêng đối với hợp đồng bảo lãnh ngânhàng, khi các TCTD phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay, thì sẽ chuyểnsang ghi nợ cho bên được bảo lãnh, do đó trở thành nghĩa vụ như đối với một hợpđồng cho vay. Khi đó lãi suất đối với nợ gốc trong hạn, lãi suất đối với nợ gốcquá hạn, lãi suất đối với nợ lãi quá hạn và lãi suất đối với khoản nợ chậm thihành án sẽ được xử lý hoàn toàn giống với hợp đồng cho vay của các TCTD.
Trường hợp hợp đồng tín dụng vô hiệuthì hậu quả pháp lý là không tính lãi cho vay hay phí bảo lãnh theo quy địnhtại Điều 131 về “Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”, BLDS năm 2015.
1.3. Tranh chấp bảo đảm tín dụng
Ngoài ra, quan hệ tín dụng thườnggắn với tài sản bảo đảm tín dụng, nên cũng thường xảy ra tranh chấp về việc bảoquản, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm. Điều 292 về “Biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ”, BLDS năm 2015 quy định có 9 bên pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụbao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưuquyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. Việc bảo lãnh có thể làbảo lãnh ngân hàng hoặc bảo lãnh của pháp nhân hay cá nhân khác.
Tuy nhiên trong quan hệ tín dụng thìchỉ liên quan đến 5 biện pháp bảo đảm là cầm cố, thế chấp, ký quỹ, bảo lãnh vàtín chấp và cũng được gọi là các hợp đồng bảo đảm. Hợp đồng tín dụng không liênquan trực tiếp đến 3 biện pháp ký cược, bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tàisản. Riêng biện pháp đặt cọc, có thể áp dụng trong quan hệ tín dụng tuy nhiêngần như không xuất hiện trên thực tế.
Vì bảo lãnh ngân hàng là một biệnpháp bảo đảm nhưng đồng thời cũng là một hợp đồng tín dụng, nên có thể lại sửdụng các biện pháp bảo đảm khác như ký quỹ, cầm cố, thế chấp để bảo đảm nghĩavụ trả nợ trong quan hệ giữa các bên.
1.4. Mối quan hệ giữa tín dụng vàbảo đảm
Trường hợp chỉ có tranh chấp về hợpđồng bảo đảm, không có tranh chấp về tín dụng, thì vẫn phải khởi kiện giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, chứ không khởi kiện độc lập hợp đồng bảođảm, vì tín dụng là hợp đồng chính, bảo đảm là hợp đồng phụ. Hay nói cách khác,hợp đồng bảo đảm phụ thuộc vào hợp đồng tín dụng vì là một bộ phận của hợp đồngtín dụng.
Dù tín dụng là hợp đồng chính, nhưngnếu bị vô hiệu thì không dẫn đến việc vô hiệu hợp đồng bảo đảm là hợp đồng phụtheo quy định tại khoản 2, Điều 407 về “Hợp đồng vô hiệu”, BLDS năm 2015.
2. CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANHCHẤP TÍN DỤNG
2.1. Phương thức giải quyết tranhchấp
Cũng giống như các loại tranh chấphợp đồng khác, các tranh chấp tín dụng có thể là tranh chấp dân sự hoặc tranhchấp kinh doanh, thương mại, đều có thể giải quyết bằng các phương thức thươnglượng, hòa giải, trọng tài và tòa án theo quy định của pháp luật. Không có quyđịnh cụ thể của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.
Việc giải quyết tranh chấp bằng hòagiải được thực hiện theo quy định của Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017của Chính phủ về hòa giải thương mại
2.2. Giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài
Riêng với phương thức giải quyếttranh chấp bằng trọng tài thì áp dụng đối với trường hợp các bên thỏa thuậngiải quyết tranh chấp bằng trọng tài đối với tranh chấp giữa các bên phát sinhtừ hoạt động thương mại hoặc ít nhất một bên có hoạt động thương mại và tranhchấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài theo quy định tại Điều 2 về “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp củatrọng tài”, Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
Cho đến nay, chưa có quy định nàobắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, mà chỉ là quy định các bêncó thể lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài như Luật thương mại năm2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, Luật các Công cụ chuyển nhượng năm 2006, Luậtbảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầutư năm 2014, Bộ luật hàng hải năm 205, v.v...
Tranh chấp được giải quyết bằngtrọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài có thểđược lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp theo quy định tại khoản 1, Điều 5về “Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài”, Luật Trọng tài thương mạinăm 2010.
Kết hợp các điều kiện trên thì thựcchất chỉ có duy nhất một trường hợp giải quyết bằng trọng tài, đó là lý do cácbên thỏa thuận đối với tranh chấp trong đó ít nhất một bên có hoạt động thươngmại. Như vậy tranh chấp hợp đồng cho vay tiêu dùng của các TCTD cũng được giảiquyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận.
Các bên có thể chỉ thoả thuận giảiquyết tranh chấp bằng Trọng tài mà không cần phải ghi chính xác tên của Trungtâm Trọng tài thương mại trên thực tế. Trường hợp các bên vừa có thoả thuậngiải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thoả thuận giải quyết tranh chấpbằng Toà án thì có quyền khởi kiện ra trước một trong hai bên Trọng tài hoặcToà án giải quyết theo quy định tại khoản 4, Điều 2 về “Xác định thẩm quyềngiải quyết tranh chấp giữa Trọng tài, Toà án theo quy định Luật Trọng tàithương mại”, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán,TANDTC “Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại”.
Nếu hợp đồng tín dụng có tài sản bảođảm của bên thứ ba, thì chỉ giải quyết được bằng Trọng tài khi tất cả các bêncó thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
2.3. Giải quyết tranh chấp bằng Toàán:
Tranh chấp tín dụng được giải quyếttại Toà án thì thuộc quyền giải quyết của Toà nhân dân huyện, quận, thị xã,thành phố thuộc tỉnh theo quy định tại điểm a và b, khoản 1, Điều 33 về “Thẩmquyền của TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”, Bộ luật tố tụng Dânsự (BLTTDS) năm 2004, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 và điểm a và b, khoản1, Điều 35 về “Thẩm quyền của TAND cấp huyện”, BLTTDS năm 2015, trừ trường hợpcó đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quanđại diện Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án, cơ quan có thẩm quyền của nướcngoài.
Việc giải quyết tranh chấp bằng Toàán không phụ thuộc vào việc thoả thuận của các bên. Luật quy định, Toà án nơibị đơn cư trú, làm việc, hoặc có trụ sở có thẩm quyền giải quyết, trừ trườnghợp các bên có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toá án nơi cưtrú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết tranh chấp theo quyđịnh tại điểm b, khoản 1, Điều 39 về “Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ”,BLTTDS năm 2015.
Riêng đối với Toà kinh tế thì khácvới thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài là chỉ giải quyết tranh chấpphát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăngký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, theo quy định tại khoản 1,Điều 30 về “Những tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyếtcủa Toà án”, BLTTDS năm 2015.
Luật sư Trần Minh Hùng chuyên giatư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...
Chúng tôilà hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyênviên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm,kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệmvà đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý-cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sưbảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư lànghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sưluôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sưthì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề,chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnhhưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luậtsư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúpđược cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đemlại công bằng cho xã hội.
Luậtsư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sưGia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyềnthông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luậttrên các Kênh truyền hình uy tín như: Đài Truyền hình TPHCM(HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long,Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam,Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phátthanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổitrẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công annhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại họcluật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trườngĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại họcuy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luậtsư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếngtrên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàngNavibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầugiây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, LừaĐảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự,kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lạiniềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm cônglý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.
Chúng tôicùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nướcrất lâu năm.
Trân trọngcảm ơn!.
